Ông già Thái Bình giữa Đại ngàn Tây Nguyên



Ông Già Thái Bình” Hà Văn Tiến

Hướng tới kỉ niệm ngày giải phóng miền nam, thống nhất đất nước ( 30/4/1975-30/4/2011)

Năm 1966, có một một chàng trai 18 tuổi từ biệt mẹ già và làng Đại Nam, Phú xuyên, Tỉnh Hà Sơn Bình để vào với vùng E’suck, Gia Lai, Đắk Lắk bắt đầu theo những ngày kháng chiến. Sau gần 3 năm được học tập công tác vận động quần chúng nhân dân và huấn luyện quân sự chuyên nghành công binh rà phá bom mìn.  Để rồi qua nhiều năm gắn bó bám sát địa bàn, ông đã cùng đồng đội phá hàng trăm những  vụ án lớn nhỏ liên quan đến các phần tử phản đông tại những địa bàn trọng yếu, góp phần đêm lại sự bình yên cho nhân dân và được nhân dân gọi với cái tên trìu mến “ Ông Già Thái Bình”.


Là một người giản dị, mộc mạc trong đời thường nhưng cương nghị, quyết đoán trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt tại chiến trường Tây nguyên và Tây Nam Bộ, ông đã cùng đồng đội tổ chức hàng trăm trận đánh lớn nhỏ làm cho liên quân Mỹ -Ngụy trên vùng đất này nhiều phen lao lúng mà vẫn tâm phục khẩu phục. Kẻ thù và nhân dân trong vũng vẫn thường gọi con người ấy là “ Ông Già Thái Bình” và đã từng treo giải cho những ai có thể tiêu diệt được con người nguy hiểm này.

“Ông già thái bình” ngày ấy tên thật là Hà Văn Tiến, sình ngày 2-6-1938 trên vùng quê nghèo chiêm trũng ngoại thành Hà Nội, giàu truyền thống cách mạng. Nhưng chàng trai nghèo Hà Văn Tiến hồi đó  lại chưa một ngày biết đến các mạng.   Đế rồi, chỉ vài tháng sau đó, khi có quyết định tuyển quân, tăng cường chi viện cho chiến trường miền Nam, với lòng nhiệt thành  cách mạng Hà Văn Tiến đã tự nguyện từ biệt nơi chôn rau cắt rốn, từ biệt mẹ già hòa cùng vào hàng ngũ những người làm cách mạng vào Nam, chỉ với ý nguyện quét sạch quân thù đem lại độc lập cho dân tộc. Và sau gần 3 năm học tập tại trường sĩ quan công binh theo ngành rà phá bom mìn, đến tháng 8-1965, Hà Văn Tiến đã có mặt tại chiến trường Tây Nguyên, một  vùng chảo lửa để tham gia vào những trận đánh lớn của dân tộc, ở nhưng thời khắc khác nhau.

.Một ngày trưa nắng giữa tháng tư, khi cả nước đang hướng về miền Nam với những cảm xúc khác nhau, để cùng nhớ lại những thời khác lịch sử của 35 năm về trước, “ Ông Già Thái Bình”hẹn gặp tôi trong căn nhà nhỏ có một gian hàng tạp hóa nằm khuất trên mặt đường chính. Ngồi đối diện với  ông chẳng những tôi mà bất cứ ai ngay tư lần đầu cũng không thể hình dung được con người ấy đã có một thời tung hoành như mãnh hổ trên bao lơn Trường Sơn, giữa đại ngàn Tây Nguyên hùng vĩ. So với tuổi 72 của mình, vẻ ngoài khiến người đối diện nghĩ rằng đó là một người nông dân thuần hậu chất phác hơn là giống với một vị tướng đã kinh qua các chức vụ Huyện đội trưởng huyện đội E’suck ba năm , chủ nhiệm công binh tỉnh đội Đắk Lắk bốn năm, nguyên trưởng Ban Năm ( hành chính) tỉnh đội Đắc Lắc hai năm, đại đội trưởng đại đội công binh C312 tỉnh Đội Đắk Lăk . Cho đến giai đoạn từ năm 1995 đến năm 1996, 1997,  ông trở lại quê nhà giữ chức vụ Chủ tịch Hội cựu chiến binh cho đến lúc về hưu năm 1998. Thời gian công tác của mình, ông đã vinh dự được Đảng và Nhân dân các tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai, Đắk Nông tặng thưởng nhiều huân chương cao quý, trong đó có hai huân chương chiến công hạng hai, ba huân chương chiến sĩ giải phóng, ba huân chương chiến sĩ vẻ vang và nhiều huân chương dũng sĩ diệt Mỹ, diệt Ngụy.

Ông pha một ấm nước trà nóng, mời tôi uống, nhấp một ngụm nhỏ ông bắt đâu đuqa tôi sống lại những ngày tháng năm lịch sử mà ông đã cùng với quân dân miền Nam mà trong đó chủ yếu là nhân dân các tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, Giai Lai chiến đấu anh dũng để bảo vệ chiến tuyến, giữ vững địa bàn trong những thời khắc quan trọng của dân tộc. Đặc biệt từ những năm 1966 đến khi hiệp định Giơnevơ được lặp lại 1973, ở Tây Nguyên, địa bàn được xác định là có vị trí chiến lược then chốt đối với cục diện của chiến tranh, cứ mỗi thời khắc trôi qua là tính chất ác liệt của cuộc chiến lại được đẩy lên cao. Ngày ấy, dọc các tuyến đường 21, 14 địch gài cám một khối lượng bộc phá, mìn bẫy đã gây ra những tổn thất lớn cho quân ta. Trước tình hình đó, cần phải có một lực lượng làm nhiệm vụ gỡ mìn và đơn vị của Hà Văn Tiến  được đào tạo cũng nhằm cho mục đích này, và chỉ ít  ngày sau đó, đơn vị do ông trực tiếp chỉ huy  đã cùng với địa bộ đội địa phương, dân quân du kích và dân quân tự vệ rà phá, làm nổ và thu về với khối lượng hàng trăm tấn bọc phá, mìn các loại góp phần vào chiến công của quân dân khu Năm nói riêng và toàn nghành công binh nói chung.

Đặc biệt trong cùng thời khắc đó, từ đường14 đi Buôn Ma Thuật, khi tham gia hoạt động giao thông đường số 19, chủ yếu là ở các huyện Phù Mỹ, Phù Cát – Bình Định, đường số1 ở Đèo Nhông, Phủ Cũ, có một trận đánh đã để lại trong ông nhiều kỉ niêm, trận Bông Sơn –Bình Đinh, Đèo Phượng- Cù Mồng đường số 21, trong đó trận Đèo Cù Mồng được đánh giá như “ Tiếng súng Tây Nguyên” . Cuộc chiến đấu giữa ta và địch rất căng thẳng, nhưng do hỏa lực địch mạnh nên quân ta thương vong nhiều. “Tôi và một đồng chí trung đội trưởng đã chiến đấu để bảo vệ thi thể của nhiều đồng chí hi sinh, khi quân địch đến gần mà đạn đã hết, tránh địch bắt nên anh em liều rút vỏ cát tút ra ném, địch tưởng đó là lựu đạn, lợi dụng tình hình đó, anh em lao xuống suối chạy tháo.

Tử năm 1965 đến 1973, địch ráo riết kết thúc chiến tranh bằng những loạt hành động man rợ làm xáo động nhân tâm loài người. Suốt một chiều dài miền Bắc, bắt đầu từ các tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng trở vào cho đến Quảng Bình, Quảng trị đế quốc Mỹ đã rải xuống cửa biển các tỉnh này một khối lượng ngư lôi, bom từ trường tương đối lớn nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam bằng đường thủy. Trước tính chất các liệt ấy, với những kiến thức 3 năm theo học tại Trường sĩ quan công binh và nhiều năm kinh nghiệm hoạt động trên các tuyến đường lửa, Hà Văn Tiến đã cùng đồng đội tiến hành tháo gỡ thành công hàng trăm loại bom, ngư lôi từ trường, đảm bảo cho những tấn vũ khí vào Nam kịp thời. Ông tâm sự, đó chính những giấy phút mà ông  và đồng đội thường xuyên  nghĩ đến ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết, chỉ cần một tích tắc sơ sểnh cũng gây ra nhưng tổn thất không lường hết được. Nhưng ông bảo cũng chính tình cảm của người mẹ và hình ảnh của quê hương trong ông đã thôi thúc giúp ông vươt qua nỗi sợ hãi và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà cấp trên giao phó.

Cho đến bây giờ, nhắc đến ngày lịch sử hôm 10-3-1975, trận chiến mà Hà Văn Tiến vinh dự góp mặt  để cùng làm nên chiến thắng vẻ vang của toàn dân tộc, những kí ức ấy lại bất chợt ùa về trong ông vẹn nguyên như hồi nào, có lẽ chỉ có những người trong cuộc mới hiểu được ý nghĩa thiêng liêng ấy. Ông kể rằng khi được lệnh tiêu diệt quân Đoàn 2 chốt giữ trên đường số 21 nằm giữa Nha Trang và Buôn Ma Thuật, và một số cứ điểm chốt giữ đường số 14, 19, 21, nghĩa là “phải chặt  địch ra từng khúc mà đánh “ như lời của một vị tướng.  Còn tại đường số 7 đich chốt giữ từ Treo Gieo đi Công Sơn Phú Yên, địch có một sư Bộ 23 gồm 3 trung Đoàn chủ lực là 41, 42, 45. Để phân tán lực lượng này, cách chừng 22 cây số, ta tung tin đánh vào Buôn Ma Thuật buộc địch phải cắt cử sư Đoàn 10 ( Hai Râu),  hỏa lực địnch bị phân tán và bộ đội được tập trung để sẵn sàng chiến đấu, trong trận  này, Hà Văn Tiến đã tiêu diệt  nhiều lính địch và được tặng thưởng Huân Chương dũng sĩ diệt Mỹ.

 Có một câu chuyện khác mà cho đến bây giờ ngồi kể lại cho chúng tôi nghe “ Ông Gìa Thái Bình” một thời được chứng kiến vẫn để lại những ấn tượng về tinh thần chiến đấu quả cảm của quân dân miền Nam . Ấy là ngày 21-3-1973, từ 9h sáng, khi lực lượng của ta đánh thọc sâu vào các vào dinh thự của địch đóng tại kinh thành Huế, biết trước sẽ thua, địch cho mấy bay lên thẳng di tản cố vấn Mỹ và một phần lực lượng Ngụy. nhân dân gồm bộ đội địa phương, dân quân du kích, dân quân tự vệ đã xúm lại rất đông, đu dây cáp, cắt dây tời,  không cho chúng thao chạy. Bởi vậy, mặc dù rất cố gắng nhưng chúng vẫn phải bỏ lại một số quân nhất định.

Trung Tá Hà Văn Tiến bảo đấy là trong chiến tranh, có thể nguy hiểm hơn, nhưng cuộc đấu tranh đó có một ranh giới mong manh giới giữa chính nghĩa và phi nghiã. Còn trong thời bình, ở nhũng địa bàn mà ông được giao phó như miền Nam, Tây Nguyên, thì cuộc đấu tranh càng khốc liệt và phức tạp. Đó là cuộc đấu tranh để giữ yên “ Ba miền” trong đó có địa bàn Tây Nguyên mà ông trực tiếp đảm nhiêm, mà nếu một vùng không được giữ yên thì chẳng nhưng toàn miền không được yên mà đất nước cũng mất ổn định. Trung tá Hà Văn Tiến, trong từng thời khắc khác nhau của  45 năm chiến tranh đã phải đảm nhiệm những công việc khó khăn và gian nan đó. 25 năm là trưởng Ban Năm, rồi 8 năm là chủ nhiệm đại đội công binh C312 ở những địa bàn trọng yếu, Đăk Lăk- Tây Nguyên.

Năm 1975, sau ngày giải phóng đất nước cho đến năm 1986, ông được trực tiếp giao nhiệm vụ ở lại giúp đồng bào các dân tộc như Êđê, Mơ Nông, có cả người kinh, Quảng Ngãi, Bình Định, Thái Bình vào làm kinh tế. Với một khu vực có nhiều dân tộc cùng sinh sống, lúc bấy giờ Tây Nguyên vẫn nổi lên như một điểm nóng về các hoạt động mất an ninh trật tự, kích động làm giảm uy tín, lòng tin giữa Đảng với quân chúng. Bọn Phinrô đã thực hiện mưu thành lập một Nhà nước “Đề Can Tự Trị” tại Tây nguyên. Trước tình hình đó, có nguy hại đến an ninh quốc gia, nhưng ở một địa bàn nhạy cảm như Tây Nguyên thì không dễ giải quyết được trong một sớm một chiều, mà cần có thời gian. Qua khảo sát tình hình cụ thể, Trung Tá Hà Văn Tiến, lúc bấy giờ là Huyện đội trưởng  huyện đội E’suck đã một mình xuống tận cơ sở, nghe ngóng tình hình. Khi đi ông thường ăn mặc giản dị, tay chống gậy, quân sắn móng lợn, trông như trang phục của người Thái Bình nên tên gọi“ Ông Già Thái Bình” cũng gắn liền với ông từ đó. Nhờ có khả năng quan sát, năm vững địa bàn và khảo sát thực nghiệm đã cho ông những kinh nghiệm phá hàng trăm vụ án có tính chất phức tạp tại các điểm nóng năm của các huyện E’suck. Chưm’Nga, E’pock. Danh tiếng “ Ông Gìa Thái Bình” được nhiều người trong vùng biết đến, thậm chí ngay cả kẻ địch cũng kinh hồn bạt vía.

Có một lần, ông kể, nhân dân xã Quảng Phú nói rằng đâu đó vẫn có hiện tượng dân quân du kích chặt cành, làm rơi vãi củi lãng phí của dân. Ông cho người xuống thi sát, quả đúng, thế là tờ mờ sáng hôm sau quần vải túi rết ông đã có mặt. Không đao to búa lớn, không có tranh chấp chỉ bằng những lý lẽ đi vào lòng người, ông đã hóa giải được mối hiểu nhầm. Một lần khác, khi đi ngang qua nông trường nông trường Xã Quảng Phú- E’suck, do xã Quảng Phú quản lý, nhân dân đã phá rào vào ăn trộm, mót cà phê nên xảy ra xung đột giữa nhân dân và dân quân của huyện đội. Ngay hôm sau, ông đã cùng với trinh sát của mình, trong trang phục ăn vận kiểu nông dân vào thị sát nông trường. Một anh lính dân quân bắt ông lại, ông la toáng lên, mục đích để thu hút sự chú ý và  ông được đưa về trụ sở của huyện đội, lát sau ông Giám đốc nông trường xuất hiện, từ đằng xa trông thấy ông, giám đốc nông trường đã vội ôm trầm lấy ông mà rằng “  Trời ! anh Tiến sao lại đến nông nổi này” khi đó mọi người mới biết ông là Huyện đội trưởng huyện đội E’suck. Thế là chẳng những dân quân mà cả nhưng người vừa gây rối bỏ về trong sự khó hiểu xen chút bất ngờ.

Một câu chuyện hết sức cảm động, hồi ông còn công tác ở E’suck có một bà mẹ sinh được hai người con trai, cha mất sớm chẳng ai dậy dỗ, chúng đâm ra quậy phá. Bà mẹ nghe người ta mách trên Huyện đội có “ Ông Gìa Thái Bình” giản dị mà hay giúp người. Bà lặn lội tìm đến, ngay sau hôm đó tôi đã xuống đưa hai đưa về quản lý. Chỉ sau đó một thời gian chúng thay đổi tính nết hoàn toàn. Bà mẹ gặp lại tôi cảm động khóc, tôi hỏi hai đứa sao làm mẹ buồn, chúng bảo chúng cháu vẫn vâng lời Bác, bà mẹ nắm tay tôi rầu rĩ “ Cảm ơn Bác, tôi bản thân sinh ra chúng mà còn không bảo ban được chúng, vậy mà Bác ở ngoài Bắc vào, lạ nước lạ cái mà đã giáo dục chúng lên người, tôi thật không biết lấy gì báo đáp.”Ông bảo, Chỉ tiếc thời gian không đủ để ông có thể chứng kiến chúng lên người. Tôi thầm nghĩ còn vinh dự nào lớn lao nào cao quý hơn  khi được sống trong lòng nhân dân, được nhân dân tin tưởng. Thiết nghĩ một đời người khoác màu xanh áo lính thế là quá đủ.

Tiễn tôi bằng nụ cười phúc hậu, ông bảo, nay đã về hưu sống cảnh an nhàn trong một quán cóc nhỏ, ông dành nhiều thời gian chăm sóc từng mảnh vườn góc sân, bởi nơi đó ông đã lớn lên và cũng từ đó mà bỏ lại cả tuổi thơ đẹp đẽ để theo tiếng gọi của trái tim lớn . “ Ông Gìa Thái Bình” năm xưa nay là một cựu chiến binh vẫn đi về  với công tác nhân đạo tại quê hương. Vì hơn ai hết, ông hiểu được giá trị của sự lành lặn, hạnh phúc hôm nay mà ông có được đã phải đánh đổi bằng rất nhiều xương máu của nhiều đồng đội, anh em…

 Vũ Minh Phúc

Về HàJung
u n t i l w h e n e v e r

One Response to Ông già Thái Bình giữa Đại ngàn Tây Nguyên

  1. Lê Thị Thanh Xuân nói:

    – Câu chuyện và nhân vật được nhưng cách diễn đạt còn dài dòng, rườm rà, cần biên tập lại cho ngắn gọn, logic và hấp dẫn hơn.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: